Nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trích từ bài viết :https://lamdong.edu.vn/vi/sgddetail/?param=nhan-dien-va-dau-tranh-voi-am-muu-loi-dung-van-de-dan-toc-va-ton-giao-de-pha-hoai--khoi-dai-doan-ket-toan-dan-toc
Đinh Gia Huy, học sinh lớp 11A12, Trường THPT Di Linh, đạt Giải Triển vọng tại Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tỉnh Lâm Đồng năm 2026.
Thể loại: Báo in
Tóm tắt: Vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn là địa hạt mà các thế lực thù địch tập trung khai thác để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiểu đúng chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng, nhận diện chính xác từng thủ đoạn lợi dụng và xây dựng luận cứ phản bác có cơ sở là yêu cầu thiết yếu để bảo vệ khối đoàn kết vững chắc trong kỷ nguyên phát triển mới.
NỘI DUNG
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là sự gắn bó giữa 54 dân tộc anh em trên cùng lãnh thổ, giữa những người theo các tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Đây không phải khẩu hiệu, đây là bài học lịch sử được chứng minh bằng hàng trăm năm đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.
Chính vì khối đoàn kết đó là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, nên phá hoại nó luôn là mục tiêu hàng đầu của các thế lực muốn làm suy yếu đất nước từ bên trong. Vấn đề dân tộc và tôn giáo với tính nhạy cảm tự nhiên, với những khác biệt văn hóa thực tế và với những bất bình đẳng trong phát triển vẫn còn tồn tại là địa hạt mà các thế lực thù địch tập trung khai thác nhất. Trong kỷ nguyên số, khi không gian mạng xóa bỏ biên giới địa lý và cho phép tiếp cận cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa hay tín đồ tôn giáo ở mọi nơi với chi phí gần bằng không, mức độ nguy hiểm của chiến lược này đã tăng lên gấp nhiều lần.
Nhận diện chính xác các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, xây dựng luận cứ phản bác có cơ sở và đồng thời củng cố thực chất nền tảng đoàn kết bằng chính sách đúng đắn là ba yêu cầu không thể tách rời trong bối cảnh hiện nay.
Chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng có cơ sở khoa học vững chắc và kết quả thực tiễn không thể phủ nhận
Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc nhất quán: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Nguyên tắc đó không phải tuyên bố trên giấy, nó được cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách và đầu tư thực chất. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, phê duyệt theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg, bố trí tổng vốn đầu tư hơn 137 nghìn tỷ đồng là quy mô lớn nhất từ trước đến nay dành cho phát triển vùng dân tộc thiểu số.
Việc hoàn thành các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 là minh chứng không thể phủ nhận. Đến đầu năm 2026, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số đã kéo giảm xuống dưới mức 10% (theo chuẩn nghèo đa chiều mới), hoàn thành vượt mức chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra. Không còn là những con số nằm trên giấy, hạ tầng vùng lõm đã thay đổi căn bản: 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa. Hệ thống giáo dục đặc thù với 320 trường phổ thông dân tộc nội trú và hơn 1.100 trường bán trú đang là "cái nôi" đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại chỗ. Việc một số thế lực thù địch rêu rao về "hòa hợp dân tộc giả tạo" trở nên lố bịch trước thực tế con em các dân tộc Ê-đê, Gia-rai, Mông đang làm chủ công nghệ và giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy chính trị cơ sở.
Trên bình diện tôn giáo, tính đến quý I năm 2026, Việt Nam có hơn 27,2 triệu tín đồ, sinh hoạt tại hơn 59.000 cơ sở thờ tự - tăng mạnh so với giai đoạn 5 năm trước. Sự thành công của Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2025 tại Việt Nam hay các kỳ lễ trọng của Công giáo, Tin lành, Cao đài được tổ chức rầm rộ, an toàn là câu trả lời trực diện nhất cho những báo cáo sai lệch về "tự do tôn giáo" của các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 cùng các Nghị định hướng dẫn mới nhất đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bảo hộ quyền tự do tâm linh nhưng cũng là rào cản thép ngăn chặn những hành vi lợi dụng đức tin để "bất tuân dân sự" hay kích động ly khai. Sự ổn định này không đến từ sự cưỡng ép, mà đến từ sự tôn trọng đa dạng trong thống nhất của thể chế chính trị Việt Nam.
Nhận diện hệ thống các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo
Các thế lực thù địch không tiếp cận vấn đề dân tộc và tôn giáo theo một thủ đoạn duy nhất - chúng vận dụng nhiều phương thức bổ sung nhau, điều chỉnh linh hoạt theo từng đối tượng và bối cảnh. Nhận diện hệ thống các thủ đoạn đó là điều kiện để không bị bất ngờ và phản bác kịp thời.
Thủ đoạn thứ nhất: kích động tư tưởng ly khai dưới danh nghĩa "quyền tự quyết dân tộc"
Các tổ chức phản động nước ngoài như FULRO - dù về mặt tổ chức đã không còn hoạt động - vẫn tiếp tục duy trì ảnh hưởng tư tưởng thông qua các tài khoản mạng xã hội, kênh YouTube và các trang web được vận hành từ nước ngoài. Chúng lợi dụng khái niệm "quyền tự quyết dân tộc" trong luật quốc tế để kêu gọi ly khai, xây dựng "nhà nước Đề Ga" ở Tây Nguyên hay "nhà nước Khmer Krom" ở Nam Bộ. Điểm yếu lý luận của thủ đoạn này là sự xuyên tạc khái niệm "quyền tự quyết": trong luật quốc tế hiện đại, quyền tự quyết dân tộc không đồng nghĩa với quyền ly khai khỏi quốc gia mà chủ yếu được hiểu là quyền tự quản về văn hóa, ngôn ngữ và phát triển trong khuôn khổ quốc gia thống nhất. Nghị quyết 2625 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc năm 1970 đã khẳng định rõ điều này.
Thủ đoạn thứ hai: lợi dụng bất bình đẳng phát triển còn tồn tại để kích động mâu thuẫn
Khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và vùng đồng bằng là thực tế có thật và là vấn đề mà Đảng và Nhà nước đang nỗ lực giải quyết. Các thế lực thù địch khai thác thực tế này theo cơ chế: thừa nhận bất bình đẳng có thật, đảo nhân - quả để quy kết đây là kết quả của "phân biệt đối xử có hệ thống", bỏ qua hoàn toàn bối cảnh lịch sử - địa lý - kinh tế của sự chênh lệch và các chính sách ưu tiên đang triển khai. Cơ chế này đặc biệt nguy hiểm vì nó bắt đầu từ sự thật được thừa nhận, tạo ra cảm giác khách quan và đáng tin cậy, trong khi kết luận hoàn toàn sai lầm.
Phản bác hiệu quả đòi hỏi không né tránh thực tế bất bình đẳng còn tồn tại, mà chỉ ra cơ chế hình thành có tính lịch sử và địa lý của nó, đồng thời cung cấp bằng chứng về chiều hướng thay đổi: khoảng cách đang được thu hẹp chứ không mở rộng, và đây là xu hướng có thể kiểm chứng bằng số liệu theo thời gian.
Thủ đoạn thứ ba: cài cắm tà đạo và tín ngưỡng biến tướng trong cộng đồng dân tộc thiểu số
Đây là thủ đoạn kết hợp giữa tôn giáo và dân tộc theo cách tinh vi nhất: lợi dụng đời sống tâm linh phong phú của các cộng đồng dân tộc thiểu số để cài cắm các tổ chức tà đạo - Dương Văn Mình ở vùng người Mông các tỉnh miền núi phía Bắc, "Giê Sùa" ở Tây Nguyên - vừa mang màu sắc tôn giáo vừa có nội dung chính trị chống phá.
Nhận diện thủ đoạn này đòi hỏi hiểu rõ ranh giới giữa tôn giáo, tín ngưỡng hợp pháp với tà đạo vi phạm pháp luật. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định rõ điều kiện để một tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động hợp pháp. Bất kỳ tổ chức nào hoạt động ngoài khuôn khổ pháp luật, lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để gây mất trật tự xã hội hay kêu gọi chống phá chính quyền đều không phải đang thực hiện quyền tự do tín ngưỡng - họ đang vi phạm pháp luật.
Thủ đoạn thứ tư: dùng không gian mạng để quốc tế hóa các vụ việc nội bộ
Mỗi khi có vụ việc liên quan đến dân tộc hay tôn giáo ở Việt Nam - dù là xử lý tội phạm có tín đồ tôn giáo, hay giải quyết tranh chấp đất đai ở vùng dân tộc thiểu số - các thế lực thù địch lập tức đưa lên không gian mạng với thông tin một chiều, gửi kiến nghị đến các tổ chức nhân quyền quốc tế và vận động các chính phủ nước ngoài gây sức ép ngoại giao. Mục tiêu là biến vụ việc cụ thể thành "bằng chứng" cho cáo buộc có hệ thống, tạo áp lực quốc tế và làm uy tín Việt Nam suy giảm trên trường quốc tế.
Phản bác thủ đoạn này đòi hỏi hai điều: thứ nhất, cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời về các vụ việc bằng tiếng Việt và tiếng Anh để cộng đồng quốc tế có đủ cơ sở đánh giá; thứ hai, chủ động xây dựng quan hệ với các tổ chức quốc tế, phóng viên nước ngoài và cộng đồng người Việt ở ngoài nước có lập trường khách quan - để khi có vụ việc xảy ra, không phải chỉ có tiếng nói một chiều của các thế lực thù địch tiếp cận cộng đồng quốc tế.
Đại đoàn kết toàn dân tộc có nền tảng lịch sử - văn hóa bền vững và được củng cố bởi lợi ích phát triển chung
Phản bác các âm mưu chia rẽ không thể chỉ dừng ở phòng thủ - cần khẳng định chủ động những nền tảng thực sự của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để những nền tảng đó trở thành sức đề kháng tự nhiên trước mọi luận điệu chia rẽ.
Nền tảng lịch sử - văn hóa của đại đoàn kết là không thể phủ nhận. 54 dân tộc Việt Nam đã cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước qua hàng nghìn năm - điều đó tạo ra sự gắn kết không phải từ áp đặt mà từ lịch sử chung, số phận chung và khát vọng chung. Trong các cuộc kháng chiến, đồng bào dân tộc thiểu số đã chiến đấu và hy sinh không kém gì người Kinh - từ những dũng sĩ Pa Kô ở Trường Sơn đến các chiến sĩ Mường, Thái ở Điện Biên Phủ. Ký ức lịch sử chung đó là chất kết dính mà không thế lực nào có thể xóa bỏ bằng tuyên truyền.
Nền tảng lợi ích phát triển chung là yếu tố thực tiễn mạnh mẽ nhất. Chỉ trong khuôn khổ một quốc gia thống nhất, ổn định và phát triển, các cộng đồng dân tộc thiểu số mới có thể tiếp cận đầy đủ các cơ hội phát triển - giáo dục, y tế, hạ tầng, thị trường. Lịch sử của các quốc gia từ Nam Tư cũ đến nhiều quốc gia Trung Đông và châu Phi - cho thấy rõ: ly khai không mang lại phồn vinh cho các dân tộc nhỏ, nó chỉ mang lại xung đột, nghèo đói và lệ thuộc.
Nền tảng tôn giáo - văn hóa của đại đoàn kết cũng đang ngày càng được củng cố. Các tôn giáo lớn ở Việt Nam - Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo - đều có truyền thống đồng hành cùng dân tộc trong lịch sử và hiện đang đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam với phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội"; Hội đồng Giám mục Việt Nam với phương châm "Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc" - đây là những biểu hiện rõ ràng của sự gắn kết giữa đời sống tôn giáo với lợi ích dân tộc, hoàn toàn bác bỏ luận điệu rằng tôn giáo và dân tộc Việt Nam đang bị đàn áp.
Giải pháp đấu tranh và bảo vệ khối đại đoàn kết trong kỷ nguyên số
Giải quyết thực chất những vấn đề còn tồn tại - nền tảng của mọi phản bác
Phản bác hiệu quả nhất các luận điệu lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo không phải là lý luận phản bác - mà là giải quyết thực sự những vấn đề còn tồn tại mà các luận điệu đó dựa vào. Mỗi vụ việc tranh chấp đất đai ở vùng dân tộc thiểu số được giải quyết công bằng, minh bạch; mỗi hạn chế trong việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo được tháo gỡ đúng quy định pháp luật; mỗi cán bộ vi phạm quyền của đồng bào dân tộc hay tín đồ tôn giáo bị xử lý nghiêm - những hành động đó có sức thuyết phục hơn bất kỳ bài phản bác nào. Đây không phải nhượng bộ trước các thế lực thù địch - đây là thực hiện đúng chính sách của Đảng.
Nâng cao năng lực nhận diện và phản bác tại cộng đồng cơ sở
Các luận điệu lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo thường được phát tán bằng ngôn ngữ địa phương, dùng hình thức gần gũi với tập tục văn hóa của từng cộng đồng - điều mà các kênh truyền thông chính thống thường không làm được. Điều đó có nghĩa là phản bác hiệu quả nhất phải đến từ chính những thành viên của cộng đồng đó: già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo có uy tín, đảng viên là người dân tộc thiểu số hay tín đồ tôn giáo. Việc bồi dưỡng và phát huy đội ngũ này - không phải như cộng tác viên tuyên giáo theo nghĩa hành chính, mà là những người tự nguyện bảo vệ cộng đồng mình vì hiểu rõ nguy cơ - là đầu tư chiến lược dài hạn và hiệu quả nhất.
Chủ động xây dựng nội dung số bằng ngôn ngữ và văn hóa của từng cộng đồng
Nếu các thế lực thù địch đang sản xuất video bằng tiếng Mông, tiếng Ê Đê, tiếng Khmer để tiếp cận cộng đồng dân tộc thiểu số, thì yêu cầu đặt ra là xây dựng nội dung chính thống cùng ngôn ngữ đó, cùng hình thức phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của cộng đồng. Điều này đòi hỏi đầu tư vào đội ngũ sản xuất nội dung số am hiểu văn hóa địa phương và thành thạo ngôn ngữ dân tộc thiểu số - nguồn lực hiện có nhưng chưa được huy động có hệ thống. Tương tự, thông tin về chính sách tôn giáo và thành tựu phát triển của đời sống tôn giáo Việt Nam cần được phổ biến bằng nhiều ngôn ngữ đến cộng đồng quốc tế, không chỉ thụ động chờ phản ứng trước các cáo buộc.
Kết luận
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc - giữa 54 dân tộc anh em, giữa những người theo tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau, giữa người trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài - là thành quả của hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước chung. Thành quả đó không tự bảo vệ mình trước những âm mưu phá hoại có hệ thống, ngày càng tinh vi và được hỗ trợ bởi công nghệ số.
Bảo vệ khối đoàn kết đó đòi hỏi cả hai mặt song hành: liên tục củng cố nền tảng vật chất và tinh thần của đoàn kết bằng chính sách đúng đắn và thực thi nghiêm minh; đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác mọi âm mưu chia rẽ bằng lý luận sắc bén, bằng bằng chứng thực tiễn và bằng sự đoàn kết thực sự trong hành động của cả hệ thống chính trị. Hai mặt đó không thể tách rời - thiếu một trong hai, công tác bảo vệ khối đoàn kết sẽ không hoàn chỉnh./.